9.49 ct Russian demantoid from the Korkodin mine

Demantoid là loại đá quý rực rỡ nhất trong họ đá quý Garnet. Demantoid có màu xanh lục sánh ngang với Emerald và độ chiếu sáng (lửa) vượt xa Diamond. Trước đây loại đá quý này chỉ dành riêng cho các nhà sưu tập và giới quý tộc Nga.

Là một trong những loại đá quý có chỉ số khúc xạ và tán sắc cao nhất, thậm chí còn cao hơn cả kim cương, Demantoid được đặt tên từ tiếng Hà Lan demant (kim cương) mang ý nghĩa là diamond-like.

Cùng là green garnet: Demantoid, Tsavorite là những đá quý hiếm và giá trị cao nhất, có màu sắc như Emerald (emerald-like color). Nhưng trọng lượng riêng và độ tác sắc của demantoid vượt trội hơn hẳn. Tsavorite là green grossular garnet, demantoid là green andradite garnet.

A Russian demantoids with horsetail inclusions. Photo courtesy of Gemsbynomads
A Russian demantoid with horsetail inclusions. Photo courtesy of Gemsbynomads

Russian Demantoid nổi tiếng với màu xanh thuần khiết và các bao thể độc đáo có hình đuôi ngựa (demantoids with horsetail inclusions), một dạng sợi amiăng phát xạ.

Russian demantoid đứng ngang hàng với các loại đá quý hàng đầu như Kashmir Sapphire, Burmese RubyColombian Emerald.

Các thị trường chính cho demantoid của Nga là Hoa Kỳ, Trung Quốc và Pháp. Thị trường Pháp yêu cầu những viên đá nhỏ hơn. Trong khi khách hàng Trung Quốc và Hoa Kỳ chọn những viên đá trên 1 carat. Giá demantoid của Nga đã tăng lên, đặc biệt là đối với các kích cỡ lớn hơn do nguồn cung hạn chế. Ước tính, mỏ Poldnevaya sản xuất từ ​​300 đến 1.000 carat đá quý mỗi tháng. Điều này có nghĩa là chỉ có một vài viên đá trên 3 carat được sản xuất hàng năm.

Demantoid của Nga nổi tiếng với màu sắc thuần khiết. Ảnh của Kevin Schumacher.
Demantoid của Nga nổi tiếng với màu sắc thuần khiết và các bao thể độc đáo. Ảnh của Kevin Schumacher.

Lịch sử đá quý Demantoid

Demantoid được phát hiện ở dãy núi Ural của Nga, dưới thời trị vì của Sa Hoàng Nga Alexander II. Ngay từ những năm 1819 – 1821, những viên đá quý màu xanh lục đã được phát hiện trong một sa khoáng vàng-bạch kim tại sông Bobrovka gần làng Elizavetinskoe, Sissersk, Nizhni-Tagil.

Khi đến thăm Nga vào năm 1856, nhà khoáng vật học người Phần Lan, Nils von Nordensheld đã nghiên cứu đặc tính khoáng vật học của những viên ngọc xanh mới từ Urals. Ông xác định rằng trên thực tế, chúng không phải là peridot mà là một khoáng chất mới. Vào tháng 2 /1864, ông nói chuyện với Hiệp hội Khoáng vật học St.Petersburg tuyên bố khám phá mới này thuộc loại đá Andradite Garnet.

Sau đó, vào năm 1884, AV Kalugin và con trai của ông đã tìm thấy Green Andradite Garnet trong những bãi cát chứa vàng của sông Bobrovka, gần làng Poldnevaya ở quận Polevskoy. Họ không biết về nhà khoáng vật học Nordenscheld và cho rằng viên ngọc xanh lá này là chrysolite (olivine/peridot).

Kỹ sư khai thác mỏ A.A. Lesh đã xác định thành phần hóa học của Poldnevaya “chrysolite” là ‘calcareous iron garnet’. Ông công bố khám phá của mình vào năm 1887 tại một cuộc họp của Hiệp hội Khoáng vật Hoàng gia St.Petersburg. 

Thành phần hóa học tương tự như viên đá quý demantoid từ sông Bobrovka gần Elizavetinskoye đã được Giáo sư P. Nikolaev đưa ra vào năm 1881. 

Bằng một sự trùng hợp đáng kinh ngạc, hai mỏ demantoid đầu tiên được phát hiện trong cát chứa vàng của hai con sông hoàn toàn khác nhau có cùng tên Bobrovka, cách nhau hơn 200 km. Vì vậy, khi nhắc đến mỏ demantoid, gần như luôn có hai cái tên được chỉ định: Poldnevaya Bobrovka hoặc Nizhny Tagil (hoặc Elizavetinskoye).

Polished demantoid rough displaying color transitions and a horsetail inclusion. Photo E. Burlakov
Polished demantoid rough displaying color transitions and a horsetail inclusion. Photo E. Burlakov

Năm 1887, demantoid được giới thiệu tại Triển lãm Công nghiệp Ural như một loại đá quý mới. Sau sự kiện này, xuất khẩu đá quý tăng lên và giá cũng tăng nhanh chóng. Sau Triển lãm Paris năm 1898, giá demantoid đã đạt mức cao nhất. Điều này dẫn đến việc khai thác đá quý tăng mạnh, đạt sản lượng tối đa vào năm 1913 là 104 kg.

Từ năm 1875 đến năm 1920, demantoid rất phổ biến trên thế giới. Trong thời gian này, đá quý màu xanh lá cây này đính vào đồ trang sức của hãng kim hoàn trứ danh Fabergé.

Karl Faberge, người thợ kim hoàn nổi tiếng nhất của Sa Hoàng Nga, đã tạo ra những báu vật hoàng gia bằng cách pha trộn sự kết hợp của men, vàng, đá demantoid và các loại đá quý khác để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật vô giá.

An Imperial Fabergé egg Spring Flowers from 1899, on display at the Fabergé Museum in Saint Petersburg.
An Imperial Fabergé egg Spring Flowers from 1899, on display at the Fabergé Museum in Saint Petersburg. (Photo: Fabergé Museum)

Nga là nguồn khai thác demantoid duy nhất cho đến giữa những năm 1990, khi loại đá quý này được phát hiện ở Châu Phi.

Kể từ năm 1996 và 2009, Namibia và Madagascar đã trở thành những nguồn cung cấp quan trọng về mặt thương mại.

Các nguồn khai thác đáng chú ý: Italia (Ala, Piedmont và Val Malenco, Sondrio), Iran (Kerman), Pakistan (Kaghan Valley, Hazara), Afghanistan, Sri Lanka, Azerbaijan, Congo, South Korea, Mexico, Canada, United States (San Benito County, California).

 Đặc tính của Đá quý Demantoid

Demantoid có độ tán sắc cao hơn kim cương nên sáng hơn nhiều so với kim cương. Với màu xanh lục tuyệt đẹp, Demantoid là một trong những loại đá quý hiếm, được săn lùng nhiều nhất.

0.75–2.0 ct. demantoid garnets. Photo: Wimon Manorotkul. PalaGems International
 0.75–2.0 ct. demantoid garnets. Photo: Wimon Manorotkul. PalaGems International

Demantoid rất hiếm ở các loại đá mài trên 2 carat. Lớn hơn 5 carat được coi là những viên đẳng cấp thế giới. Hầu hết các viên đá quý nhỏ hơn 1 carat.

Rough Demantoid
Rough Demantoids thường xuất hiện dưới dạng các hạt rất nhỏ trong đá chủ (trái). Ảnh: Tao Hsu
Rất khó tìm được loại lớn chất lượng (bên phải). Ảnh: Constantin Wild
Điều này làm cho đá mài giác trên 1 ct rất hiếm.

Demantoid có bao thể đuôi ngựa giá trị cao hơn những viên không có. Những viên Green Andradite Garnet chất lượng quý hiếm và giá trị nhất trong họ đá quý garnet.

Không phải tất cả các viên Russian demantoid đều có những bao thể đuôi ngựa nổi tiếng. Chúng cũng được thấy ở những viên được khai thác từ Iran và Ý. Nhưng Namibia và Madagascar thì không có loại này.

Horsetail in a 4.26 ct demantoid (Photo: E. Burlakov)
Horsetail in a 4.26 carat demantoid. Photo: E. Burlakov
  • Thành phần hoá học: Ca3Fe2Si3O12, nhiễm chromium (Cr) cho màu xanh, nhiễm sắt (Fe 3+ ) cho màu vàng
  • Độ cứng (Mohs): 6.5 – 7
  • Trọng lượng riêng: 3.82-3.88
  • Chỉ số khúc xạ: 1.881-1.888. Khúc xạ đơn: Khi ánh sáng chiếu vào một đá quý đẳng hướng, nó chỉ bị khúc xạ theo một góc nào đó tùy thuộc vào giá trị chiết suất của hai môi trường mà không bị tách thành hai tia.
  • Cấu trúc tinh thể: Khối
  • Màu sắc: Yellow-green, green, deep green
  • Hệ số tán sắc: 0.057. Đây là một trong những loại đá quý có chỉ số cao nhất, thậm chí cao hơn cả kim cương
  • Bảo quản: Siêu âm: nói chung là an toàn, nhưng rủi ro nếu đá quý chứa tạp chất lỏng. Hấp: không an toàn. Cách tốt nhất là làm sạch bằng nước ấm, xà phòng. Tránh để nó tiếp xúc với nhiệt hoặc axit.
  • Gia nhiệt: Một số demantoid được xử lý nhiệt để cải thiện màu sắc
25x23x11 mm Rough demantoid with acicular actinolite-tremolite inclusions. Photo: E. Burlakov
25x23x11 mm Rough demantoid with acicular actinolite-tremolite inclusions. Photo: E. Burlakov

Khai thác ở Nga

Demantoid của Nga có nhiều màu sắc với tất cả các đới màu xanh lá cây. Màu sắc tốt nhất là xanh lá cây thuần khiết, rực rỡ, không có sắc độ thứ cấp. Ước tính rằng khoảng 80% sản lượng khai thác ở mỏ Poldnevaya có màu vàng thứ cấp. Trong khi 15% là màu xanh lá cây táo. Chỉ khoảng 5% màu xanh lá cây rực rỡ hàng đầu.

Demantoids from the Bobrovka River, Russia. Photo by Elke Wetzig.
Demantoids from the Bobrovka River, Russia. Photo by Elke Wetzig.

Hiện có hai mỏ ở Urals khai thác thương mại: Korkodin và Poldnevaya. Cách nhau 7 km, nằm trong cùng một khối địa chất và chứa nhiều khoáng chất vàng, bạch kim. Mặc dù hai mỏ rất gần nhau nhưng chất liệu lại rất khác nhau. 

Mỏ Korkodin đá có màu sẫm hơn, thường màu hơi nâu có thể được xử lý nhiệt.

Mỏ Poldnevaya cho đá quý có màu sáng hơn, “thoáng” hơn mà không có màu nâu thứ cấp. Với màu xanh lá cây thuần khiết tự nhiên, những viên đá này không cần gia nhiệt để tối ưu hóa màu sắc.

Mỏ thứ ba Nizhny, nằm ở vùng Tagil, cách hai mỏ còn lại khoảng 200 km về phía bắc. Đây là nơi trữ lượng ban đầu được phát hiện, nhưng hiện không hoạt động. Đá có màu sáng hơn với sắc thái hơi xanh, khác biệt với hai mỏ còn lại.

A productive vein of demantoid. Size: 30 x 7 cm. Photo E. Burlakov
Demantoid embedded in mother rock. Nodules are 3 to 5mm. (Photo V. Kuznetsov)

Khai thác ở Namibia

Lần đầu tiên được phát hiện ở Namibia vào những năm 1990, khu vực Erongo là nơi khai thác demantoid garnet đầu tiên ở Châu Phi.

This selection of andradite garnet from Namibia’s Green Dragon mine includes an 11.63 ct demantoid round brilliant, an unusually large stone for this source. Photo by Robert Weldon/GIA, courtesy of Green Dragon mine.
This selection of andradite garnet from Namibia’s Green Dragon mine includes an 11.63 ct demantoid round brilliant, an unusually large stone for this source. Photo by Robert Weldon/GIA, courtesy of Green Dragon mine.

Sản lượng hiện tại của Namibian Demantoid là từ một mỏ đá cứng lộ thiên với sản lượng hàng năm từ 5.000 đến 10.000 carat. Sự phân bố của các túi demantoid trong những tảng đá này là không đều và khó dự đoán. Bên cạnh những thách thức địa chất, nước khan hiếm và nhiệt độ khắc nghiệt từ lạnh cóng vào ban đêm đến nóng sa mạc vào ban ngày.

Mỏ Namibia’s Green Dragon nổi tiếng với việc sản xuất các loại đá thô có hình dạng cân đối. Những viên này thích hợp để mài cắt giác thành những viên đá quý nhỏ hơn với kích thước 2–3 mm. Màu sắc từ xanh lục hơi ngả xanh qua xanh lá cây sả đến vàng hơi xanh và nâu đỏ (range of colors: from slightly bluish green through “lemongrass” green to greenish yellows and reddish browns).

Hầu hết đá được mài cắt giác ở Thái Lan. Những kích thước nhỏ được mài cắt giác tốt vẫn có độ bóng cao và lửa mạnh. Loại thô để có những viên đá quý 6mm (khoảng 1 carat) hiếm hơn nhiều.

Nguồn:

  1. Russian Demantoid Czar of the Garnet Family, GIA
  2. Demantoid from the Ural Mountains of Russia, Palagems
  3. Large and Fine Demantoid from Russia, GIA
  4. Update on Russian Demantoid Production, GIA
  5. Russia’s Stunning Demantoid Discovery, Palagems
  6. Russian Demantoid, Ysarina jewels
  7. Large Namibian Demantoid Garnet, GIA

Leave a Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.