Tourmaline Khai Trung

Đá quý Việt Nam được phát hiện lần đầu tiên vào những năm 1980 của thế kỷ trước với các phát hiện Ruby, Sapphire đầu tiên tại mỏ Lục Yên vào năm 1987 trong quá trình lập bản đồ địa chất. Tiếp theo là việc phát hiện mỏ Ruby ở Quỳ Châu, Nghệ An vào những năm 1990 và một loạt các điểm mỏ Sapphire liên quan với basalt miền nam Việt Nam. Ruby, Sapphire chất lượng thương phẩm chủ yếu được khai thác trong sa khoáng đi cùng với các khoáng vật khác như Spinel, Garnet ở các mỏ Lục Yên, Quỳ Châu và Zircon, Peridot ở Miền Nam Việt Nam.

Đối với đá quý nhóm II phải kể đến Aquamarine, Beryl, Topaz, Thạch anh, Tektite, Fluorite, Opal, Canxedon, Tourmaline, Nephrite, Amazonite cũng lần lượt được phát hiện và khai thác.

Bản đồ mỏ Đá quý Việt Nam
Bản đồ mỏ Đá quý Việt Nam

GENERAL OUTLINES OF PRECIOUS STONES IN VIET NAM

Geological researches and surveys in Viet Nam have been indicating a high potential in precious stones in the country.

In the recent decades, numerous gem deposits, especially those of ruby and sapphire, were discovered in different areas. In North Viet Nam, corundum was discovered in the Luc Yen, Yen Bai Province and Quy Chau, Nghe An Province areas, in primary deposits distributed in metamorphic rocks and in placer deposits. In secondary deposits, ruby and sapphire are associated with spinel and garnet. In South Viet Nam, Sapphire is related to alkaline basalts with the blue color of economic value. Sapphire has been recovered together with zircon and peridot from placers.

Other precious stones exploited in Viet Nam consist of Aquamarine, beryl, topaz, quartz crystals (Amethyst, Citrine, Morion), tektites, Fluorite, Opal, Chalcedony, Jadeite, Nephrite, and Amazonite. Ruby, Sapphire, and Pearl provide an important commercial exchange in the gemstone market in Viet Nam and foreign countries.


CÁC LOẠI ĐÁ QUÝ NHÓM I: RUBY, SAPPHIRE, KIM CƯƠNG, EMERALD

Các mỏ Ruby và Sapphire

Mỏ Lục Yên tỉnh Yên Bái

Các phát hiện đầu tiên về khoáng vật corindon vào những năm 50 của thế kỷ 20 do các nhà địa chất phát hiện trong quá trình thành lập bản đồ địa chất 1/500.000 lãnh thổ Việt Nam do nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương làm chủ biên. Tuy nhiên, khi đó chúng ta mới chỉ biết được đó là khoáng vật corindon bình thường và chưa ai biết được giá trị thực của chúng. Ngay từ thời xa xưa, tại huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái đã tồn tại một địa danh mang tên chợ Ngọc khu vực này, hiện nay đang nằm dưới lòng hồ Thác Bà.  Người ta kể lại rằng những dòng suối chảy qua khu vực trên được bắt nguồn từ Dãy Núi Con Voi chảy xuống, khi đó những viên ruby màu đỏ kích thước lớn nằm rải rác dọc theo các dòng suối, và người ta thường nhặt về bày trong tủ kính hoặc cho trẻ em chơi. Nếu như có mổ gà, mổ vịt ở khu vực này thì vẫn thỉnh thoảng phát hiện được Ruby trong dạ dày của chúng. Cho mãi đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước chúng ta mới biệt được giá trị thực của Ruby, khi mà có những phát hiện lớn tại Lục Yên và người Thái bắt đầu sang Việt Nam để thu mua với giá rất cao.

This geological map of the Yen The
This geological map of the Yen The, modified from Pham and Al (2004), shows the primary and secondary deposits of ruby, sapphire, spinel, tourmaline, and feldspar visited by one of the authors during seven field expeditions between 2005 and 2012. Modified by Vincent Pardieu.

Các mỏ Ruby thuộc tỉnh Yên Bái nằm rải rác dọc theo quốc lộ 70 kéo dài từ thị xã Yên Bái lên huyện lỵ tỉnh Lục Yên với các điểm mỏ nổi tiếng. Mỏ Tân Hương là nơi khai thác được viên Ruby Ngôi sao Việt Nam nặng 2.58kg và hiện được coi là báu vật Quốc gia, một mảnh vỡ nhỏ của viên này nặng 290cts được bán đấu giá năm 1999 với giá 290.000USD. Mỏ Trúc Lâu là nơi khai thác được viên ruby sao nặng 1.96kg và cũng được coi là báu vật Quốc gia. Mỏ Lục Yên đến nay các hoạt động khai thác vẫn đang tiếp tục. Tại Tân Hương ta có thể gặp Ruby, Spinel. Tại Trúc Lâu cũng thường là Ruby sao và Spinel, còn tại Lục Yên thì ngoài Ruby, Sapphire ta có thể gặp nhiều loại đá quý khác như Spinel, Tourmaline, Amazonita, Granet.

Ruby ở mỏ đá quý Lục Yên
Crystals of ruby in marble matrix. Photo by Vincent Pardieu, © GIA.

 

Rough ruby and sapphire crystals from An Phu
Rough ruby and sapphire crystals from An Phu (left) and small rounded rubies hosted in placers (right) are sold in the Luc Yen gem market. Photos by Vincent Pardieu, © GIA.

 

The rubellite crystals
The rubellite crystals are from Tan Lap (left) and Khai Trung (bottom right); the green tourmalines are from An Phu (top right). Photos by Pham Van Long.

 

Ruby Ngôi Sao Việt Nam
Ruby “Ngôi sao Việt Nam” nặng trên 2kg là khối đá quý được khai thác ở mỏ Tân Hương, Yên Bái năm 1997. Viên Ruby đã được bán đấu giá ở Myanmar năm 1997 với giá 290.000 USD. Ảnh tư liệu của KS An – Cựu Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Đá quý và Vàng Việt Nam.

 

Ruby Bảo Hồng Ngọc Việt Nam
ông Dương Anh Tuấn, Phó Giám đốc Tập đoàn Doji cho biết Viên Ruby này được tìm thấy từ một trong những mỏ đá quý thuộc địa phận huyện Yên Bình, mà tập đoàn Doji được quyền khai thác. Photo Doji

Mỏ Ruby Quỳ Châu

Mỏ Ruby Quỳ Châu được phát hiện vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20. Ngay từ thời đầu tiên hoạt động khai thác ồ ạt và trái phép của dân đã diễn ra trên một diện tích rộng thuộc các xã Châu Bình, Châu Hồng. Các điểm mỏ nổi tiếng như Đồi Tỷ là nơi phát hiện được những viên có giá trị tiền tỷ và đồi Triệu là nơi phát hiện những viên có giá trị tiền triệu, tên các địa danh này do giới khai thác đá đặt.

Về mặt chất lượng, Ruby mỏ Quỳ Châu thuộc vào loại Ruby đẹp nhất trên Thế Giới, tương đương với Ruby mỏ Mogok của Myanmar. Màu đẹp, độ bão hoà màu cao và độ tinh khiết cao. Tại đây khai thác được viên Ruby nặng 56cts và bán đấu giá được 562.000USD vào năm 1994.

Ruby Quỳ Châu Nghệ An
Viên Ruby Quỳ Châu nặng 56 cara, tương đương 11.1g có màu đỏ máu bồ câu trong suốt, không hề rạn nứt, được ông KS. Nguyễn Văn Hương, giám đốc Công ty Đá quý Nghệ An tìm thấy từ mỏ Đồi Tỷ. Năm 1994 đem bán đấu giá, được một công ty Thái Lan mua lại với giá 562.000 USD. Ảnh tử liệu của KS An – Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật, Chủ tịch hội đá quý Việt Nam.

Lịch sử khai thác tại khu vực đồi Tỷ mang nhiều đau thương và chết chóc. Vào đầu những năm 90 tại đây mỗi ngày có hang nghìn người từ các nơi kéo đến đào đãi để mong được đổi đời và chúng nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng. Để rồi một vụ sập hầm đau thương đã xảy ra khiến hơn 100 người bị vùi lấp ở độ sâu hơn 80 mét.

Khu mỏ Ruby Quỳ Châu, Nghệ An hiện nay thuộc quyền quản lý của Công ty CP Đá quý và Vàng Hà Nội. Trong thời gian qua, Công ty này đã đầu tư vào việc thăm dò lại và xin giấy phép khai thác, có thể trong một vài năm tới mỏ Quỳ Châu sẽ được khai thác lại.

Mỏ Sapphire khu vực Miền Nam Việt Nam

Đặc điểm của Sapphire trong bazan Miền Nam Việt Nam thường có dạng lăng trụ, lăng trụ tháp hoặc lăng trụ tháp cụt lục phương, phổ biến dạng mảnh vỡ hoặc dạng hạt. Tại các điểm Ngọc Yêu, Đá Bàn, Đăk Nông thường gặp những tinh thể Corundum có kích thước lớn, đường kính nhiều khi đến 30-40mm. Về màu sắc chúng thường có màu lam đậm nhiều khi tới đen, một số màu khác cũng hay gặp như lục, lục lam hoặc lam lục, lục vàng, vàng. Về độ tinh khiết có thể gặp từ trong suốt đến đục, tỷ lệ loại trong suốt thường thấp khoảng 10-15%.

Các mỏ Sapphire Miền Nam Việt Nam được phát hiện rộng rãi tại các tỉnh Đak Nông, Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai. Chúng phân bố chủ yếu trong các tầng phong hoá của đá basalt. Tại Đắk Nông, Đá Bàn gặp các tinh thể Sapphire có kích thước lớn (đường kính 30-40mm) với màu lam đậm và các màu khác thường gặp là lục, lục lam. Tại Tiên Cô còn gặp loại Sapphire màu vàng mật ong.

Tỷ lệ loại trong suốt có chất lượng ngọc thường chỉ vào khoảng 1-5%, còn phần lớn chúng là loại không có chất lượng ngọc. Mặc dù kích thước tinh thể lớn nhưng độ trong suốt rất kém, và do vậy không thích hợp cho sản xuất hàng trang sức.

Ngoài ra tại các khu vực EaHleo, Đơn Dương, Vân Hoà đôi khi cũng phát hiện được các hạt Ruby có kích thước nhỏ, màu đỏ hồng, hồng, da cam. Ruby ở đây có màu khá đẹp độ trong suốt tương đối cao, tuy nhiên kích thước hạt bé nên không thích hợp để làm đồ trang sức.

Trong số các điểm mỏ trên, hiện nay dân địa phương chỉ còn khai thác tại một số khu vực nhất định tại khu vực mỏ Đá Bàn huyện Hàm Thuận Bắc tỉnh Bình Thuận và khu vực mỏ Đak Tôn huyện Trường Xuân, tỉnh Đắk Nông. Lượng Sapphire khai thác được không nhiều và chủ yếu vẫn là loại chất lượng thấp. Sản phẩm khai thác được thường được bán cho mục đích sản xuất tranh đá quý hoặc bán cho các thương nhân Thái Lan để xử lý nhiệt.

Mỏ Sapphire Đá Bàn, Bình Thuận

Vùng mỏ Đá Bàn thuộc xã Hồng Sơn, nằm cách thành phố Phan Thiết 28km về phía đông bắc. Tại đây, Sapphire được khai thác trong các bậc thềm eluvi và deluvi với độ sâu khoảng 1-2 mét. Sapphire ở đây thường có màu lam đậm, lam phớt lục, lục-lam và ít hơn là màu lục nhạt. Sapphire vàng ít gặp.

Mỏ Sapphire Đá Bàn được phát hiện đầu tiên vào năm 1992. Tại thời điểm tháng 11/1992 thường xuyên có khoảng từ 2000 đến 3000 người tập trung khai thác trên diện tích khoảng 7km2.

Các năm về sau lượng người khai thác giảm dần do mỏ được chuyển về quản lý bởi Tổng Công ty Đá quý và Vàng Việt Nam và một phần là lượng Sapphire khai thác được cũng giảm dần. Cho đến năm 2010 vẫn còn một bộ phận nhỏ người dân khai thác trên một vài khu vực. Sản phẩm thu được chỉ là loại Sapphire có kích thước nhỏ <1,5cts và chất lượng thường thấp.

Mỏ Sapphire Đá Bàn Bình Thuận
Dòng thạch nham tạo nên mỏ Sapphire tại vùng núi Đá Bàn, trải dài trên địa phận hai xã Hồng Liêm và Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Ảnh: Thành Nguyễn, Báo Tuổi Trẻ

 

Tìm Sapphire tại mỏ Đá Bàn Bình Thuận
Hàng tấn đất đá được đưa từ dưới hầm sâu lên để tìm một vài viên Sapphire. Ảnh: Thành Nguyễn, Báo Tuổi Trẻ

 

Sapphire mỏ Đá Bàn Phan Thiết
Vùng được xem là bãi đá quí ở Đá Bàn rộng hàng trăm hecta được xé lẻ thành nhiều bãi như bãi Dầu, bãi Nháp, bãi Nước, bãi Ramba Khánh, bãi Chỉ Xó, bãi Đá Đen, bãi Cháy, bãi Gộp. Photo Thành Nguyễn, báo Tuổi Trẻ

Khu mỏ Sapphire Ma Lâm, Bình Thuận

Điểm mỏ Ma Lâm nằm cách thành phố Phan Thiết 20km về phía bắc – tây bắc thuộc xã Hàm Chinh. Cũng giống như mỏ Đá Bàn, Sapphire ở đây cũng được khai thác trong eluvi và deluvi, nhưng trên một diện tích lớn hơn rất nhiều so với mỏ Đá Bàn. Thời điểm mới phát hiện năm 1992, hàng ngày có hơn 1000 người tập trung khai thác.

Sapphire mỏ Di Linh, Lâm Đồng

Sapphire vùng Di Linh được phát hiện tại xã Tiên Cô và Bình Điền (nằm về phía bắc tỉnh Bình Thuận). Mỏ được phát hiện vào những năm 1991 bởi người dân địa phương trong quá trình trồng cà phê. Đầu những năm 1992, khu mỏ Tiên Cô được Công ty Đá quý và Vàng Việt Nam (Vinagemco) tiếp quản và tổ chức khai thác.

Kim cương

Cho đến nay vẫn CHƯA phát hiện được kim cương trên lãnh thổ Việt Nam, tuy nhiên các kết quả khảo sát địa chất đã cho thấy các tiền đề về địa chất tại vùng Tây Bắc Việt Nam và một số tỉnh Tây Nguyên. Cụ thể là các biểu hiện của các đá Lamproites tại Tây Bắc với các đai mạch Kimberlite tại Tây Nguyên.

Vào cuối những năm 90 thế kỷ trước, đề tài tìm kiếm kim cương do Việt Nghiên cứu địa chất và khoáng sản thực hiện đã phát hiện viên kim cương kích thước 2mm vùng Tây Nguyên. Đây là một dấu hiệu quan trọng cho việc khẳng định sự có mặt của kim cương ở Việt Nam.

Emerald

Cũng giống như kim cương, cho đến nay emerald và chrysoberyl vẫn CHƯA phát hiện được ở Việt Nam tuy nhiên theo các nhà địa chất học thì các thành tạo và cấu trúc địa chất tại một số khu vực thuộc Ba Bể tỉnh Bắc Kạn và Mỏ Ngọt tỉnh Vĩnh Phúc, cũng như một số khu vực tại tỉnh Hà Giang giáp với biên giới Trung Quốc có triển vọng với loại đá quý này.

ĐÁ QUÝ NHÓM II – ĐÁ BÁN QUÝ “Semi-Precious Stones”

Beryl và Aquamarine

Các phát hiện đầu tiên của Aquamarine và Topaz ở Việt Nam là tại Xuân Lẹ, Thường Xuân, Thanh Hoá vào năm 1985 trong quá trình lập bản đồ địa chất khu vực Bắc Trung Bộ của Liên đoàn địa chất IV. Aquamarine phân bố trong các đai mạch pegmatit có chiều dài hàng trăm mét và chiều rộng từ 0,40m đến 5,0m. Các khoáng vật đi kèm bao gồm thạch anh, Feldspar kali, Plagioclase, Muscovite, Biotite.

Trong các đai mạch pegmatit này còn gặp Tourmaline màu đen, loại này đục thường không có giá trị trang sức, kích thước khá lớn, ngoài ra còn gặp Topaz và Zircon.

Aquamarine ở đây thường có dạng tinh thể lăng trụ sáu phương, màu xanh nước biển nhạt đến xanh da trời, trong suốt. Kích thước tinh thể thường có chiều dài từ 5-20cm, đường kính từ 1-6cm. Các sa khoáng chứa Aquamarine phát triển rộng rãi trong khu vực và là nơi dân địa phương khai thác.

Hiện nay, Aquamarine vẫn được khai thác nhiều nơi, rải rác tại khu vực xã Xuân Lẹ. Người dân địa phương tổ chức thành từng nhóm 7-10 người, với đầy đủ thức ăn và thiết bị khai thác, sau 3-5 ngày họ có thể khai thác được hàng kilogams Aquamarine với kích thước và chất lượng khác nhau. Sản phẩm khai thác được thường được các nhà buôn từ Sài Gòn, hoặc Nghệ An mua gom lại để bán cho khách hàng Trung Quốc.

Ngoài Xuân Lẹ, Beryl và Aquamarine còn phát hiện được nhiều trong trong trường pegmatit Thạch Khoán tỉnh Vĩnh Phúc. Beryl ở đây thường từ trong suốt tới bán trong suốt, kích thước thay đổi mạnh, nhưng thường gặp nhất là kích thước 1-4cm đường kính, chiều dài từ 10-30cm.

Cá biệt nhiều khi gặp các tinh thể có kích thước rất lớn, cũng tại đây vào năm 1999 đã phát hiện được một tinh thể Beryl có trọng lượng 75kg (hiện được trưng bày tại Bảo tàng Địa chất). Các khoáng vật đi kèm có thể gặp gồm Tourmaline, Thạch anh, Mica, Garnet.

Aquamarine tại mỏ Xuân Lẹ
Aquamarine tại mỏ Xuân Lẹ. Photo Vietnamgem

Topaz

Đi cùng với Aquamarine là Topaz cũng phát triển trong các thân mạch pegmatit. Ở Việt Nam, Topaz được tìm thấy trong pegmatit ở Thạch Khoán tỉnh Vĩnh Phú, đi cùng với Thạch anh, Beryl và một số khoáng vật khác. Topaz vùng Xuân Lẹ, Thường Xuân tỉnh Thanh Hoá cũng có nguồn gốc pegmatit, cộng sinh với Aquamarine và Thạch anh. Topaz Lâm Đồng trong pegmatit cộng sinh với felspat, thạch anh.

Theo tài liệu của các nhà địa chất năm 1995 trữ lượng Topaz tại mỏ Xuân Lẹ ước chừng khoảng 41,53 tấn. Topaz thường có kích thước khá lớn, bị rạn nứt mạnh do quá trình vận chuyển trong sa khoáng. Màu sắc thường là không màu, đôi khi gặp màu vàng nhạt khá thích hợp cho việc sản xuất hàng trang sức.

Trong những năm gần đây, Topaz vẫn được khai thác nhiều cùng với Aquamarine tại khu vực Xuân Lẹ.

Ngoài ra, một loạt các điểm Topaz khác cũng được phát hiện tại Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng và một số khu vực khác tại Yên Bái.

Tourmaline

Các kết quả khảo sát địa chất đã phát hiện được các thân pegmatit chứa Tourmaline tại Lục Yên tỉnh Yên Bái. tuy nhiên Tourmaline có giá trị trang sức lại được khai thác chủ yếu trong sa khoáng, còn bản thân Tourmaline phát triển cùng với thạch anh và đôi khi là Topaz trong các thân mạch pegmatit lại có chất lượng ngọc rất thấp chỉ thích hợp cho mẫu sưu tập.

Trong sa khoáng Tourmaline có chất lượng ngọc được khai thác cùng với Ruby, Sapphire tại các bãi bồi trầm tích aluvi, chúng có màu sắc rất đa dạng lục, nâu, vàng, hồng và đen. Một đặc điểm hay gặp của Tourmaline ở đây là tính phân đới màu. Theo chiều dài tinh thể ta gặp các màu hồng, tím và lục vàng xen kẽ nhau, và theo lát cắt ngang từ trong ra ngoài ta cũng gặp tính phân đới tương tự. Tỷ lệ Tourmaline để mài facet là rất thấp, hầu hết chúng thích hợp cho mài cabochon hoặc điêu khắc, số còn lại làm mẫu sưu tập.

Tourmaline Khai Trung
A block of pink tourmaline and violet lepidolite-bearing pegmatite from
Khai Trung. This piece weighs approximately 300 kg and was sold to a foreign dealer in 2016. Photo by N.T.L. Quyen.

 

Luc Yen Tourmalines
Luc Yen tourmalines come in many colors, including pink (A; 7.0–47.3 ct), green (B; 6.0–63.1 ct), yellow (C; 5.4–9.5 ct), and parti-color (D; 1.40–2.58 ct). All these colors were included in the study. Photos by N.T. Nhung.

Năm 2008 một loạt các phát hiện Tourmaline tại Bắc Kạn. Tourmaline ở đây thường có màu hồng nhạt, lục nhạt và đen. Nhiều khi cũng gặp các tinh thể có tính phân đới màu giống Tourmaline Lục Yên. Độ trong suốt thường từ bán trong tới đục và cũng không thích hợp cho việc mài facet.

Vào năm 2009 phát hiện Tourmaline màu hồng tại Khai Trung và Tân Lập huyện Lục Yên. Tuy nhiên chúng thường bị rạn nứt mạnh và tỷ lệ ngọc thường không cao. Màu sắc và chất lượng của Tourmaline Tân Lập khá giống với Tourmaline vùng Bắc Kạn.

Spinel

Spinel chất lượng ngọc được khai thác cùng với sa khoáng ruby và Sapphire tại Lục Yên, Tân Hương, Yên Bái và Quỳ Châu, Nghệ An. Tại Tân Hương và Quỳ Châu thường gặp Spinel có màu đỏ, hồng đỏ tới hồng, độ trong suốt cao kích thước tinh thể khá lớn và rất thích hợp cho việc làm hàng trang sức. Trong các sa khoáng tại Lục Yên cũng gặp loại Spinel có màu đỏ và hồng đỏ, tuy nhiên nhiều khi ta cũng gặp loại Spinel có màu đỏ phớt nâu hoặc màu lam, rất dễ nhầm với Sapphire.

The rough sky-blue spinel
The rough sky-blue spinel on the left is from the Bai Son mine. The cut spinels from Luc Yen (right) weigh 2.3 to 11.9 ct. Photos by Vincent Pardieu, © GIA (left) and Pham Van Long (right).

Trong đá gốc gặp các tập đá hoa chứa Spinel phát triển rộng rãi tại mỏ Lục Yên. Spinel thường có màu đỏ, đỏ phớt nâu, nâu phớt tím. Tinh thể dạng bát diện, kích thước tinh thể rất thay đổi từ 0,5cm tới 4-5cm, đục và ít có giá trị trang sức chỉ thích hợp làm mẫu sưu tập. Các khoáng vật đi cùng với Spinel bao gồm Pargasite, Dolomite. Trong những năm gần đây, một lượng lớn Spinel trong đá gốc được khai thác dùng làm mẫu sưu tập và làm đá cảnh, đá trang trí. Các sản phẩm tinh thể vụn có kích thước nhỏ được tận dụng để sản xuất tranh đá quý.

Zircon

Zircon được khai thác nhiều trong các sa khoáng liên quan tới basalt Miền Nam Việt Nam và chúng thường đi kèm với Sapphire tại Kon Tum, Dak Lak, Gia Lai, Lâm Đồng và Bình Thuận. Chúng thường là không màu, nâu nhạt, đỏ nâu, cam nhạt và đôi khi có màu vàng nhạt. Loại kích thước bé độ trong suốt thường cao hơn loại kích thước lớn. Kích thước các tinh thể thường gặp từ 0,2cm – 1,5cm.

Peridot

Peridot được khai thác chủ yếu tại hai mỏ Hàm Rồng và Biển Hồ, Gia Lai, chúng thường có màu lục olive tới màu lục vàng với kích thước tinh thể nhiều khi tới 2x4x4cm. Tuy nhiên loại thường gặp nhất là từ 0,6-1,5cm. Trong sa khoáng Peridot thường có độ rạn nứt cao, tỷ lệ sử dụng để sản xuất hàng trang sức khoảng 15-20%, số còn lại thường có kích thước nhỏ hoặc rạn nứt mạnh thích hợp cho sản xuất tranh đá quý.

Peridot nodules from the Ham Rong mine in Vietnam
Three peridot nodules, collected from the Ham Rong mine in Vietnam’s Gia Lai Province, were examined for this study. Top right: The rough stones were sorted by quality into three groups (left to right: good-, medium-, and poor-quality). Bottom right: Fifteen faceted peridots, weighing 0.75–1.41 ct, were cut at DOJI and examined for this study. Photos by N.N. Khoi.

Thạch anh, Opal, Canxedon

Các biến thể thuộc nhóm thạch anh được phát hiện tại nhiều nơi, nhưng chủ yếu cũng là liên quan tới  các trường pegmatit lớn. Thạch anh pha lê và thạch anh ám khói được khai thác nhiều tại Xuân Lẹ tỉnh Thanh Hoá, Thạch Khoán tỉnh Vĩnh Phúc và Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An.

Thạch anh tím Amethyst gặp nhiều tại Đơn Dương tỉnh Lạng Sơn và Gia Lai tuy nhiên chúng thường có kích thước nhỏ và màu nhạt. Thạch anh ám khói Morion / Smoky quartz gặp ở Lộc Tân tỉnh Lâm Đồng. Thạch anh hồng được khai thác nhiều tại Đà Nẵng và một số tỉnh Tây Nguyên và chúng thích hợp cho việc sản xuất hàng mỹ nghệ.

Opal, Canxedon được khai thác nhiều tại một số tỉnh Tây Nguyên như Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng, Kon Tum. Tỷ lệ Opal thường rất ít, và chúng thường có màu không đẹp cũng như độ trong suốt không cao. Canxedon gặp nhiều hơn và gặp ở nhiều màu khác nhau: trắng đục, nâu, vàng, lục xám, đỏ,…và các dải màu xen kẽ nhau. Kích thước các khối Canxedon nhiều khi tới hang tấn hoặc hang chục tấn.

Trong những năm gần đây một khối lượng lớn loại này đã được khai thác và sử dụng làm mẫu trưng bày, đá phong thuỷ, tỷ lệ dùng được để sản xuất hàng trang sức rất thấp.

Canxedon 18m3 Dakmil
Tảng đá quý Canxedon nặng khoảng 27-30 tấn, 18m3 được tìm thấy tại thôn Nam Định, xã Đắk Gằn, huyện Đắk Mil, Đắk Nông.

Ngọc trai

Việt Nam có vùng biển dài và rất thích hợp cho việc nuôi cấy ngọc trai. Hiện nay, ngọc trai được nuôi cấy chủ yếu tại Hạ Long tỉnh Quảng Ninh, Đảo Cát Bà tỉnh Hải Phòng, Nha Trang tỉnh Khánh Hoà, Phú Quốc tỉnh Kiên Giang. Nhưng sản lượng không còn nhiều do môi trường ô nhiễm làm năng suất nuôi cấy ngọc trai không cao.

Về màu sắc, ngọc trai nuôi cấy tại các vùng biển của Việt Nam thường có màu trắng, vàng nhạt. Một số nơi tại Phú Quốc đó cho ngọc trai màu đen giống loại ngọc trai vùng Biển Bắc. Kích thước viên ngọc thường 5-8mm, loại lớn hơn 9mm hiếm hơn.

Taiheju Shinju Pearl Farm Van Don
Cấy Ngọc trai ở Công ty TAIHEYOSHINJU VIET NAM tại Vân Đồn. Photo TTXVN

Một số loại đá quý khác

Jadeite và nephrite

Ngọc jadeite và nephrite đó được phát hiện tại Cò Phương tỉnh Sơn La, trong các đá biến chất cao thuộc cấu trúc sông Mó. Tuy nhiên về chất lượng chúng thường có màu xấu, lục rất nhạt đến trắng đục và chứa nhiều bao thể tạp chất, thích hợp cho việc sản xuất hàng mỹ nghệ điêu khắc, việc làm hàng trang sức thì hầu như không thể.

Tektite

Tektite được phát hiện nhiều nơi ở Việt Nam từ Bắc đến Nam. Loại kích thước lớn thường được tìm thấy tại Kon Tum, Lâm Đồng và Phú Quốc. Một số khu vực tại biên giới giữa Việt Nam và Lào cũng là những nơi phát hiện nhiều tektite.

Fluorite

Fluorite được khai thác nhiều tại hai khu vực là Xuân Lãnh tỉnh Phú Yên và Đông Pao tỉnh Lai Châu. Về màu sắc chúng thường có màu lục nhạt, tím nhạt hoặc các màu xen kẽ giữa chúng. Kích thước các tinh thể nhiều khi tới 10cm độ trong suốt từ bán trong tới đục. Loại trong suốt có thể mài facet để sản xuất hàng trang sức, loại đục thường được dùng để làm tranh đá quý.

Amazonite

Là biến thể màu lục của nhóm feldspat gặp nhiều trong các thân pegmatit vùng Lục Yên tỉnh Yên Bái chúng thường đi cùng với tổ hợp khoáng vật Tourmaline, Thạch anh và Mica. Kích thước các tinh thể nhiều khi tới 5-10cm chiều ài và 3-4 cm đường kính. Loại trong suốt có thể mài facet để sản xuất hàng trang sức, loại đục thường được làm mẫu sưu tập hoặc mài cabochon, điêu khắc mỹ nghệ.

KẾT LUẬN

Cho đến nay các loại đá quý có giá trị kinh tế cao đã phát hiện được ở Việt Nam là Ruby, Sapphire, Spinel, Aquamarine, Topaz. Những loại đá quý này phân bố trên những vùng sinh khoáng khác nhau ở miền bắc Việt Nam như Ruby, Spinel trong đá hoa thuộc các hệ tầng đá biến chất dọc theo đứt gãy sông Hồng. Topaz, Aquamarine trong các thành tạo pegmatit liên quan đến các đá magma axit các tỉnh Thanh Hóa và Vĩnh Phúc.

Tại miền nam Việt Nam, các loại đá quý có giá trị kinh tế phải kể đến là Sapphire, Zircon, Peridot được thành tạo liên quan đế các đá basalt tuổi Kainozoi. Trong các khu vực này, nhiều các điểm đá quý mới được phát hiện nhưng chưa có sự đầu tư để thăm dò chi tiết. Bên cạnh đó, những năm gần đây, một lượng lớn đá Canxedon được khai thác tại nhiều tỉnh Tây Nguyên để phục vụ mục đích trang trí, mỹ nghệ và phong thủy.

Một số loại đá quý khác có quy mô nhỏ hơn và phát hiện được ở nhiều nơi như Tourmaline, thạch anh, Tektite, Peridot cũng có một vai trò khá quan trọng cho ngành công nghiệp đá quý Việt Nam.

Với một dải bờ biển dài hơn 3000km và có nhiều vũng, vịnh kín là nơi thích hợp cho nuôi cấy ngọc trai. Tuy nhiên việc đầu tư và phát triển ngành này vẫn chưa được đầu tư nhiều và có thể nói đó là một sự lãng phí lớn đối với những điều kiện mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước chúng ta.

Trải qua gần 30 năm, ngành công nghiệp đá quý và trang sức của Việt Nam đang ngày một định hình và phát triển dựa trên nguồn tài nguyên sẵn có. Ngoài những loại đá quý có giá trị cao để làm xuất khẩu và làm hàng trang sức thì người dân Việt Nam đã biết tận dụng các mảnh vụn, các viên đá quý nhỏ để làm tranh đá quý và sản xuất các sản phẩm mỹ nghệ. Điều này đã tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động, không những tận dụng được nguồn tài nguyên quý giá mà cọn mang lại một hiệu quả kinh tế cao.

Nguồn: Tổng quan Đá quý Việt Nam, Phạm Văn Long1, Phạm Đức Anh2, Phạm Thị Thanh Hiền3, Trung tâm Nghiên cứu Kiểm định Đá quý và Vàng. Bộ môn Nguyên liệu khoáng, Trường Đại học Mỏ Địa chất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Ngọc Quân và nnk (1998), Báo cáo nghiên cứu xác lập các tiền đề địa chất và dấu hiệu tìm kiếm đá quý, bán quý trong trầm tích biến chất cao dải bờ trái sông Hồng, Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản.

2. Nguyễn Kinh Quốc (Chủ biên) và nnk (1995), Nguồn gốc, quy luật phân bố và đánh giá tiềm năng đá quý, đá kỹ thuật Việt Nam, Báo cáo tổng kết Đề tài KT 01-09, Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản.

3. Nguyễn Kinh Quốc và nnk (1995), Tiềm năng đá quý Việt Nam, Báo cáo Hội nghị KHĐC lần thứ 3, Hà Nội.

4. Trần Xuân Toản, Nguyễn Hữu Tý (1995), Địa chất và nguồn đá quý miền Nam Việt Nam, Báo cáo Hội nghị KHĐC lần thứ 3, Hà Nội.

5. Phạm Văn Long (2003), Nghiên cứu đặc điểm tinh thể khoáng vật học và ngọc học của ruby, Sapphire hai vùng mỏ Lục Yên (Yên Bái) và Quỳ Châu (Nghệ An), Luận án Tiến sĩ Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.

6. Phạm Văn Long, Virginie Garnier, Gaston Giuliani, Daniel Ohnenstetter, Hoàng Quang Vinh, Phan Trọng Trịnh, Dietmar Schwarz (2004), “Gem corundum deposits in Vietnam”, Journal of Gemmology, 29(3), p. 129-147.

7. Phạm Văn Long, Hoàng Quang Vinh, Virginie Garnier, Gaston Giuliani, Daniel Ohnenstetter (2004), “Marble-hosted ruby from Vietnnam”, Canadian Gemmologist, 25(3), p. 83-94.8. Pham Van Long, Hoàng Quang Vinh, Virginie Garnier, Gaston Giuliani, Daniel Ohnenstetter, (2004), “Gemstones in Vietnam: a Review”, Australian Gemologists, Vol.24.

LưuLưu

LưuLưu

LưuLưu

LưuLưu

Gửi phản hồi

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.